Khái quát về cà phê Kenya – Bản đồ cà phê Châu Phi | PrimeCofee

Kenya chứa đựng những điều thú vị và phức tạp nhất trong lịch sử chinh phục thế giới của cà phê.. Dù chia sẻ đường biên giới với với Ethiopia – Cái nôi của mọi giống cà phê, thì phải gần 300 năm sau khi cà phê được buôn bán rộng rãi trên toàn cầu thì cây cà phê mới có mặt tại Kenya. Trên thực tế, các giống cà phê được đưa đến Kenya đã đi vòng quanh địa cầu trước khi chúng tìm đường trở lại lục địa châu Phi.

Một đoạn phim nói về hoạt động sản xuất cà phê tại Kenya – cần lưu ý rằng, Kenya không có một nền văn hóa cà phê như người láng Ethiopia. Hầu hết người Kenya thích uống trà (Kenya từng là thuộc địa của Anh), và văn hóa cà phê chủ yếu dành cho khách du lịch tại các thành phố lớn.

Tổng quan về cà phê Kenya

Ngành cà phê được hình thành trong thời kỳ là thuộc địa của người Anh, và từ khi đó nó luôn đóng góp đáng kể cho quốc gia này, các số liệu sau đây được thống kê bởi CafeImports vào năm 2017:


Quy mô sản xuất:

  • Dân số tham gia vào ngành cà phê: xấp xỉ. 700.000
  • Quy mô trang trại trung bình: 1-14 ha đối với nông hộ nhỏ, 15-50 ha đối với các nông trại lớn
  • Sản lượng xuất khẩu hàng năm: 700.000 đến 1 triệu bao (60 kg)

Hoạt động canh tác cà phê Kenya:

  • Các khu vực đang canh tác cà phê: Bungoma, Embu, Kiambu, Kirinyaga, Kisii, Machakos, Mt. Elgon, Murang’a, Nakuru, Nyeri, Taita Taveta, Thika, Tran-Nzoia
  • Giống cà phê phổ biến: SL28, SL34, Bourbon gốc Pháp, Ruiru 11, Batian, K7 …
  • Phương pháp chế biến: Kenya Washed – một quy trình chế biến ướt vớiquá trình ngâm ủ kéo dài từ 12h đến 72h
  • Cách phân loại cà phê: Phân loại theo kích cỡ hạt, trong đó Kenya AA là lớn nhất (17/18 ss), kế đến là AB (15/16 ss), PB (peaberry – 16 ss hoặc 4,74 mm)

Lịch sử canh tác cà phê

Về mặt lịch sử, những cây cà phê đầu tiên được đưa đến Kenya bởi các nhà truyền giáo người Scotland (Anh) và người Pháp. Thoạt đầu người Pháp mang đến giống Bourbon được cấy từ đảo Bourbon (nay gọi là Reunion) sang Tanzania và Kenya. Sau đó đến lượt người Anh mang vào giống Mocha, những giống khác nhau sau đó tiếp tục được mang vào và góp phần nâng cao chất lượng của cà phê của Kenya cho đến ngày nay.

Sản xuất cà phê ở Kenya
Sản xuất cà phê tại Kenya

Trong thời gian là thuộc địa của Anh, cà phê Kenya được trồng tập trung trong các đồn điền. Những năm 1920 do yêu cầu từ thị trường châu Âu ngày càng lớn, cà phê trở thành mặt hàng xuất khẩu chính của Kenya. Trong những năm 1930, hệ thống đấu giá đã được phát triển, để dân chủ hóa thị trường cho nông dân. Sau khi giành độc lập từ Anh vào những năm 1960, cà phê càng quan trọng hơn đối với các nông hộ nhỏ, nhiều người trong số họ đã được phân chia lại từ các các đồn điền lớn của chính phủ thuộc địa. Đến những năm 2000 khoảng 85% các trang trại cà phê được sở hữu bởi người bản xứ, hầu hết là các nông hộ nhỏ.P

Hoạt động sản xuất cà phê tại Kenya

Hầu hết cà phê của Kenya đều thuộc giống Arabica và được trồng trên nền đất núi lửa của các cao nguyên có độ cao từ 1.400m đến 2.000m so với mực nước biển – độ cao này đủ điều kiện cho tiêu chuẩn cà phê  Strictly High Grown (SHG). Những khu vực trồng cà phê này tồn tại cùng một hệ sinh thái rừng tự nhiên với sự có mặt của nhiều động vật hoang dã khác nhau.

KENYA PRIMECOFFEE
Bản đồ các khu vực canh tác cà phê Kenya

Điều đầu tiên xuất hiện khi chúng ta nghĩ về cà phê Kenya là tính axit, với độ chua cực kỳ nổi trội. Tuy nhiên, tại các vùng trồng cà phê khác nhau, mỗi giống cà phê Kenya lại thể hiện những sự khác biệt đáng kể về hương vị. Điển hình như cà phê của Nyeri có xu hướng ngọt ngào của đường fructose, vị chua mạnh. trong khi đó hạt tại vùng Embu nhìn chung nổi trội vị trái cây rừng, đường caramel và tổng thể cân bằng hơn. Kirinyaga cho thấy những loại hạt đậm hương hoa tinh tế và phức tạp hơn

Phương pháp chế biến ướt

Ngoài tính đặc thù của của nguồn giống được hậu thuẫn bởi độ cao lý tưởng thì quá trình chế biến còn đóng góp đáng kể vào hồ sơ hương vị của các loại cà phê từ Kenya. Mặc dù quy mô canh tác nhỏ lẻ, song các trạm chế biến cà phê (washing station) rất phổ biến.

Cà phê Kenya - PrimeCoffee
Cà phê Kenya phơi khô trong quy trình chế biến ướt

Tại các trạm chế biến này, nông dân sẽ mang cà phê được thu hoạch đến, cân khối lượng, lấy biên nhận, rồi cho vào một thiết bị tên là “depulper” (máy xát vỏ cà phê). Sau khi sát vỏ cà phê được lên men trong 24 – 48h rồi cho vào bể rữa để loại bỏ chất nhày, và phơi khô trong 7 – 10 ngày (cà phê thường được sấy khô đến khi độ ẩm còn 11 – 12%).

Cách phân loại cà phê Kenya

Các hạt cà phê được phân loại và đánh giá theo kích thước hạt cũng như hình dạng, màu sắc và độ đồng đều. Mặc dù không có nghiên cứu nào khẳng định chất lượng cà phê phụ thuộc vào kích cỡ hạt, thì cà phê vẫn được phân loại theo cỡ hạt như một đặc thù của cà phê Kenya – Hạt cà phê càng lớn, giá trị càng cao.

Yêu cầu đối với hạt Kenya AA: Màu (Screen) 21 ; Trên sàng (retained on)  17 hoặc 18 (17/64 hoặc 18/64 của một inch) ; Đường kính khoảng 7.2 mm.

Các phân loại cà phê Kenya  sẽ chọn ra các hạt cà phê lớn nhất và tốt nhất từ ​​Kenya được xếp hạng Kenya AA . Tiếp theo còn có Kenya E (Elephant Bean), Kenya PB ( Peaberry ) , Kenya AB, Kenya C, Kenya TT, Kenya T và Kenya MH / ML.

Thị trường giao dịch cà phê Kenya

Cà phê được bán tại Kenya thông qua hai hệ thống chính: bằng cách đấu giá tại Sở Giao dịch Cà phê Nairobi (Thủ đô Kenya) hoặc thông qua bán hàng trực tiếp, thường được gọi là ” Second Window” (Cửa thứ 2). Kể từ khi thành lập hệ thống đấu giá vào những năm 1930 khi còn là thuộc địa của nước Anh, đa số cà phê Kenya Được giao dịch theo phương thức này. Thông qua hệ thống này, giá của các loại cà phê có chất lượng cao có thể tăng lên, vì các đại lý sẽ cố trả giá để thu mua cà phê chất lượng cao mỗi tuần.

Kenya Coffee Auction, Nairobi Coffee Exchange, Kenya. Photo by: Joe Marrocco
Cà phê Kenya tại sàn đấu giá Nairobi. Photo by: Joe Marrocco

Hệ thống đấu giá

Mỗi hợp tác xã sản xuất (Co-operative society) sẽ làm việc với một đại lý tiếp thị (Marketing Agent), có trách nhiệm mang cà phê ra đấu giá để bán cho người đấu giá cao nhất. Các đại lý sẽ tính một khoảng chi phí 1,5-3% giá cà phê và đóng thuế với chính phủ trong việc bán cà phê. Các đại lý sẽ tiếp thị, bán cà phê của họ cà phê cho các nhà thầu quan tâm và trả giá cao nhất, sàn đấu giá diễn ra vào các ngày Thứ ba hàng tuần trong suốt cả năm ở Nairobi.

Bán trực tiếp – Second Window

Đơn giản chỉ là việc mua bán thỏa thuận thông thường giữa nông dân và nhà buôn thôi. Việc giới thiệu cửa thứ 2 đã tạo ra một lối đi khác mà trong đó nông dân và người mua (ví dụ như nhà rang xay hoặc nhà nhập khẩu) có thể đàm phán một mức giá riêng biệt với đấu giá tại cuộc bán đấu giá, không thông quan trung gian.


Tham khảo

  •  Origins Coffee – Resource: www.cafeimports.com
  • Coffee-Obsession Magazine by Anette Moldvaer ; Published in the United States by DK Publishing – 2014

NgTg.HaiVan

View posts by NgTg.HaiVan
"Thiếu đi con người cà phê chỉ là một cấu trúc mang tính lý thuyết - Thiếu đi cà phê con người cũng mất đi phần nào tính vẹn toàn" | Pour Your Heart Into It.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Scroll to top