Cà phê Arabcia – Nguồn gốc & Đặc điểm sinh vật học | PrimeCoffee

Cà phê Arabica hay còn gọi là cà phê Chè theo tiếng Việt (danh pháp là: Coffea Arabica) có nguồn gốc từ các loài cà phê bản địa của vùng cao nguyên tây nam Ethiopia. Đây là một trong những giống cà phê đầu tiên được trồng, và vẫn chiếm vị trí chủ đạo trong cơ cấu ngành cà phê trên thế giới cung ứng cho khoảng 70% sản lượng toàn cầu.

Ca phe Arabcia Nguon goc Dac diem sinh vat hoc
Cà phê Arabcia

Nguồn gốc lịch sử & đặc điểm sinh vật học

Loài C.Arabica đặc hữu hiện nay còn rất ít ở Ethiopia, trong khi hầu hết các quần thể cây trồng cà phê Arrabica hiện hữu là kết quả của sự lai tạo hỗn hợp. Chỉ có ở Ethiopia, người ta mới có thể tìm thấy các cây các cây cà phê Arabica tự nhiên trong rừng nhiệt đới ở nguyên tây nam Ethiopia hay bên kia biên giới các nước láng giềng như Đông Nam Sudan và phía bắc Kenya. Những giống cà phê phát triển trong các khu rừng của Ethiopia, đã trải qua một quá trình canh tác bởi con người, chúng thường có chất lượng rất cao nhưng rất nhạy cảm với các sâu, bệnh hại.

Trong thế kỷ 16, cây cà phê Arabica đã được mang từ Ethiopia đến Yemen. Sau đó, trong thế kỷ 17 – 18, các cây cà phê Arabica nói chung (vì mỗi giống Bourbon và Typica đều có những hành trình của riêng mình) đã phân tán ra toàn thế giới, Trong đó ta có thể tóm tắt như sau:

  • Cây cà phê Arabica Typica, được người Hà Lan mang từ Yemen đến Batavia, ngày nay gọi là Jakarta, thuộc Indonesia, rồi quay trở về Hà Lan, trước khi được đế quốc này (và cả người Pháp) mang đến khu vực Trung và Nam Mỹ.
  • Trong khi đó Arabica Bourbon thì từ Yemen đến đảo Bourbon (còn gọi là La Réunion nằm trong Ấn Độ Dương), rồi được người Pháp mang đến châu Phi trong thế kỷ 19.

Đặc điểm sinh vật học cà phê Arabica

Cây cà phê Arabica ưa sống ở vùng núi cao, nên thường được canh tác ở độ cao từ 1200 – 2200 m. Cây có tán nhỏ, màu xanh đậm, lá hình oval. Cây cà phê trưởng thành có thể cao từ 2.5 đến 4.5m, nếu để mọc hoang dã có thể cao hơn 10m. Nhiệt độ tối thích trong khoảng 15 – 24oC nên có khả năng chống lạnh cao hơn cây cà phê Robusta (18 – 36oC) . Cà phê chè sau khi trồng khoảng 3 đến 4 năm thì có thể bắt đầu cho thu hoạch. Thường thì cà phê 25 tuổi đã được coi là già, không còn giá trị kinh tế. Trong tự nhiên cây có thể tiếp tục sống thêm khoảng 70 năm.

Coffea arabica illustration from Medical Botany (1836) by John Stephenson and James Morss Churchill.
Cà phê Arabica – Cà phê chè

Sự phát triển & Phân bố cây cà phê Arabica

Trước thế kỷ 19, Arabica là giống cà phê duy nhất được sản xuất trên thế giới. Giai đoạn này các giống Arabica được lựa chọn đơn giản và chủ yếu tập trung vào khả năng thích ứng tại mỗi địa phương, năng suất cao, và chất lượng tốt. Cho đến năm 1920 bệnh gỉ sắt (Coffee Leaf Rust – CLR) trên cây cà phê Arabica lan rộng khắp quốc gia cà phê châu Phi và châu Á, khiến nhiều nông dân tìm kiếm các loại cây trồng thay thế.

Trong khi một số quốc gia thay thế việc sản xuất cà phê bằng các cây trồng khác, Indonexia đã bắt đầu lại với giống cà phê Robusta, có năng suất cao hơn và khả năng kháng CLR cao. Tuy nhiên, không may là cà phê Robusta cho cà phê chất lượng thấp hơn. Chính vì vậy cuối những năm 1970 – 1980, nhiều quốc gia khác nhau đã bắt đầu thực hiện các chương trình tạo giống nhằm tạo ra các giống kháng CLR.

Catimor
Cây cà phê Catimor, kết quả lai giữa Timor Hybrid và giống Caturra – By Michael

Ngày nay có khoảng 125 giống cà phê thuộc loài Arabica phân bố rộng rãi ở nhiều châu lục từ châu Phi, Mỹ Latinh, Đông Nam Á, Trung Quốc, đến các quần đảo ở Caribean và Thái Bình Dương. Theo Wikipedia , từ những cây A.BourbonA.Typica ban đầu, nhiều loài cà phê khác nhau đã được tạo ra (một số do đột biến tự nhiên, một số được thực hiện bởi con người). Song, hầu hết các vườn cà phê Arabica trên toàn thế giới chỉ chiếm không quá 1% sự đa dạng sinh học của các giống Arabica hoang dã ở Tây Nam Ethiopia.

Nghiên cứu & phân loại Arabica

Để được ghi nhận trong danh mục các giống loài Arabica trên thế giới, mỗi giống Arabica phải đáp ứng các tiêu chuẩn sau đây (dựa trên định nghĩa được đưa ra bởi Liên minh quốc tế về bảo hộ giống cây trồng mới (UPOV):

  • Sự đồng nhất. Tất cả các cá thể đều có một tập hợp các đặc điểm nhận dạng riêng biệt.
  • Đặc thù riêng. Đó là khả năng phân biệt với các giống khác dựa trên các đặc điểm duy truyền.
  • Tính ổn định. Cây cà phê có thể nhân giống nhiều lần mà đặc điểm của nó là không thay đổi qua các thế hệ kế tiếp.

Sau đây là một số giống Arabica phổ biến, các bạn có thể xem thêm danh sách các giống cà phê Arabica trên thế giới hoặc tải về tài liệu để nghiên cứu rõ hơn.

Tổ chức Nghiên cứu Cà phê Thế giới (WCR) ước tính rằng hơn 80% sản lượng cà phê Arabica trên toàn thế giới có nguồn gốc từ hai giống chính là TypicaBourbon.

Giống Arabica Typica

Theo WCR giống Arabica Typica thường được biết đến như một nhóm (The Typica group) với nhiều giống con, các giống hậu duệ này được canh tác rải rác trên khắp thế giới và mang các tên gọi khác nhau như Criollo (Creole), Indio (tại Ấn Độ) hoặc Arábigo (Arabica) hay Blue Mountain (tại Jamaica) và Sumatra (tại Indonesia).

Ca phe Arabica Typica tai Cajamarca Peru
Cây cà phê Arabica Typica tại Cajamarca Peru

Ngày nay, sản xuất cà phê ở Mỹ Latinh (khu vực Nam Mỹ) vẫn dựa trên một lượng lớn cây cà phê phát triển từ giống Typica và Bourbon. Tại Brazil, quốc gia chiếm 40% sản lượng cà phê toàn cầu có 97,55% các giống cà phê có nguồn gốc từ Typica và Bourbon.

Các giống con của Arabica Typica

Cà phê Arabica Maragogype, Một thể đột biến của typica, được công nhận lần đầu tiên ở Brazil vào năm 1870. Giống cà phê này cho ra những quả cà phê lớn, tuy nhiên khoảng cách giữa các quả (và quả với lá) rất lớn dẫn đến năng suất kém.

Arabica Pache – Một dạng đột biến tự nhiên của giống Typica liên quan đến một gen làm cho cây phát triển lùn hơn bình thường. Giống được phát hiện vào năm 1949 tại Guatemala trong trang trại Brito ở Santa Cruz Naranjo, Santa Rosa

SL14 và SL34, cả hai giống cà phê này được chọn lựa ở Kenya vào cuối những năm 1930 tại Phòng thí nghiệm nông nghiệp Scott (Scott Agricultural Laboratories). Các xét nghiệm di truyền gần đây đã xác nhận rằng SL14 và SL 34 thuộc nhóm di truyền Typica, đây là những giống cà phê đóng vai trò quan trọng về kinh tế ở cả Kenya và Uganda.

Mibirizi từ Rwanda, Có khả năng là giống lâu đời nhất ở Rwanda, và vẫn giữ vai trò quan trọng đối với người trồng cà phê nhỏ lẻ ở Rwanda và Burundi. Theo nhà sử học cà phê người Bỉ Edmund Leplae, Mibirizi được mang về Rwanda từ Guatemala vào những năm 1910. Vì vậy nó rất có thể thuộc dòng dõi Typica, bởi vì Guatemala chỉ trồng 100% cà phê Typica vào thời điểm đó.

Cà phê Typiaca từ Ecuador
Cá cây cà phê Arabica Typica từ Ecuador

Ngoài ra vẫn còn một số giống khác, được thừa hưởng gen Typica và ít được biết đến như: Nyasaland (hay còn gọi là Bugisu local, Nyasa), Harrar Rwanda (hay còn gọi là Harraghe)

Giống Arabica Bourbon

Cùng với người anh em Typica, Cà phê Bourbon là mắc xích gần như “tối thượng” trong sự kết nối các giống cà phê Arabica. Sự tương quan về chất lượng cao của hai giống cà phê này từng làm thước đo cho chất lượng suốt một chặng dài của lịch sử ngành cà phê. Song một số đột biến đã cho cà phê Bourbon năng suất cao hơn 20 – 30% so với anh em Typica.

Cây cà phê BourBon Hồng - Colombia (1)
Cây cà phê Arabica Bourbon Hồng – Colombia

Cây cà phê Bourbon đầu tiên được người Pháp trồng trên đảo Bourbon (nay là Réunion ) ở giữa Ấn Độ Dương vào khoảng năm 1708. Ngày nay Bourbon đã có mặt khắp lục địa Mĩ La tinh và châu Phi, phát triển tốt nhất ở độ cao từ 1.100 – 2.000 mét và cho năng suất cao hơn 20 – 30% so với người anh em Typica.

Các giống con của Arabica Bourbon

Caturra – Một dạng đột biến tự nhiên của giống cà phê Bourbon, với một biến đổi gen làm cây lùn hơn bình thường (dwarfism). Từ đột biến tự nhiên ban đầu, giống Caturra đã tiếp tục được chọn lọc bởi Viện Nông Học Brazill (viết tắt là IAC).

Villa Sarchi (còn gọi là La Luisa hay Villalobos Bourbon) giống như Catutta, là một đột biến “lùn” tự nhiên của giống C. Bourbon Giống này được phát hiện ở Costa Rica từ những năm 1950.

Tương tự như trên, Pacas cũng là một đột biến “lùn” tự nhiên của Bourbon, giống được phát hiện vào năm 1949 tại một trang trại thuộc sở hữu của gia đình Pacas ở vùng Santa Ana của El Salvador.

Arabica SL28 là một trong những giống cà phê Arabica phổ biến và được đánh giá cao nhất tại Châu Phi. Từ lần đầu được canh tác tại Kenya vào những năm 1930, không lâu sau SL28 đã phân bố rộng khắp trên các khu vực khác của châu Phi (đặc biệt quan trọng là các vùng trồng Arabica ở Uganda).

Cà phê Arabica SL28 (1)
Cây cà phê Arabica SL28 tại Kenya

Bản thân Bourbon vẫn chứa đựng một “phả hệ” rất đa dạng, ngoài các giống phổ biến được liệt kê trên đây, chúng ta còn có Tekisic – được chọn lọc bởi Viện nghiên cứu cà phê Salvador (ISIC) trong gần 30 năm, từ 1949 -1977 ; Venecia – được lựa chọn bởi ICAFE tại Costa Costa ; K7 – Được chọn lọc sau năm thế hệ tại Phòng thí nghiệm nông nghiệp Scott, thuộc Kenya vào năm 1936 ..

Các giống lai tạo giữa Typica và Bourbon

Mundo Novo là kết quả lai tự nhiên giữa Bourbon và giống Typica điển hình, lần đầu tiên được tìm thấy tại Mineiros do Tiete, Sao Paulo, Brazil. Giống “cà phê lai” này ban đầu được trồng trong khu đô thị Novo Mundo(nay là Urupês) vào năm 1943. Các cây cà phê Mundo Novo đặc trưng bởi tầm vóc cao lớn, vì thế giống này chỉ được trồng rộng rãi ở các nước Nam Mỹ, nhưng hiếm có ở Trung Mỹ và Caribê (Mundo Novo từng được đưa đến Costa Rica vào năm 1952, nhưng không được canh tác rộng rãi vì nông dân không thích tầm vóc cao to của nó).

Arabica Catuai là kết quả lai giữa Mundo Novo và Caturra được trồng ở Brazil vào cuối những năm 1940, hiện nay Catuai chiếm 50% diện tích cà phê tại Brazil và được sử dụng rộng rãi ở Trung Mỹ mà điển hình là Costa Rica, Guatemala. Cây cà phê Catuai có tầm vóc nhỏ dễ dàng chăm sóc, quả có màu vàng đặc trưng và cho năng suất cao hơn Bourbon.

Cây cà phê Catuai
Cây cà phê Catuai tại Honduras

Pacamara, là một con lai giữa Pacas (thuộc Bourbon) và Maragogipe (thuộc Typica). Được thực hiện lựa chọn phả hệ không đầy đủ bởi Viện nghiên cứu cà phê Salvador (ISIC) nên Pacamara không ổn định từ thế hệ này sang thế hệ tiếp theo

Các giống Arabica khác

Ngoài các giống trên, cần kể đến một số giống lai đặc biệt như Catimor là kết quả lai chéo giữa giống Timor Hybrid (con lai của Arabica và Robusta) và giống Caturra. Ở Trung Mỹ, Catimor còn được biết đến với tên T8667, với khả năng chống bệnh gỉ sắt mạnh mẽ.

Cuối cùng không thể không nhắc đến Arabica Java – Trái với nhiều tài cho rằng Java có nguồn gốc từ Typica. Những nghiên cứu duy truyền học phân tử của World Coffee Research đã tiết lộ rằng Arabica Java là có nguồn cội từ một quần thể cà phê bản địa ở Ethiopia có tên là Abysinia. Ngày nay Arabica Java là điển hình cho cây cà phê chất lượng cao ở khu vực Trung Mỹ.

Trên đây là một số giống cà phê Arabica phổ biến cho đến thời điểm hiện tại. Prime sẽ không ngừng cập nhật các giống mới nhất – Đừng quên đóng góp ý kiến của bạn, để nhiều người hiểu rõ hơn về giống cà phê Arabica !

Tham khảo

  • www.worldcoffeeresearch.org/ – The Catalog Coffee Varieties
  • www.ncausa.org/ – National Coffee Association of U.S.A., Inc
  • www.kew.org/ – Coffeea arabica

NgTg.HaiVan

View posts by NgTg.HaiVan
"Thiếu đi con người cà phê chỉ là một cấu trúc mang tính lý thuyết - Thiếu đi cà phê con người cũng mất đi phần nào tính vẹn toàn" | Pour Your Heart Into It.

2 Comments

  1. […] và được đánh giá cao nhất tại Châu Phi. Từ lần đầu được canh tác tại Kenya vào những năm 1930, không lâu sau SL28 đã phân bố rộng khắp trên các khu vực […]

    Trả lời
  2. ca-phe-ethiopia – VIET THUANTháng Năm 21, 2019

    […] trong các quốc gia canh tác cà phê, Một phần bởi vì đây là nơi sinh ra giống cà phê Arabica, mặt khác đất nước này không hề giống với mọi nơi khác trong thế giới cà […]

    Trả lời

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Scroll to top